Công dụng của thuốc Vidatox Plus trong điều trị ung thư

Gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc Hãng Dược phẩm Labiofam (Cuba) đã sản xuất thành công một loại thuốc chống ung thư có tên Vidatox Plus, với thành phần chủ yếu từ nọc độc loài bọ cạp xanh. 

Nọc bọ cạp xanh vùng Caribe được biết tới như 1 trong các chế phẩm hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư tại nhiều quốc gia trên thế giới. Dịch chiết cồn của nọc bọ cạp còn được sử dụng giảm đau trong trường hợp viêm khớp và đau cơ. Bọ cạp nọc độc – loài đặc hữu của Cuba, nó có tác dụng điều trị hỗ trợ trong việc điều trị các triệu chứng gây ra ở bệnh nhân ung thư và có tác dụng giảm đau rõ rệt.

Sau hơn 15 năm nghiên cứu mô tả đặc điểm của chất độc, và đánh giá tiềm năng của chúng các nhà nghiên cứu sinh đã quyết định sản xuất thuốc Vidatox plus từ nọc độc và đánh giá nó như một chất kháng khối U, giảm đau, kháng viêm, và độc tính an toàn.

Thuốc Vidatox plus đã được áp dụng trong một nghiên cứu có kiểm soát của 174 bệnh nhân ung thư ở cả hai giới với chẩn đoán mô bệnh học xác nhận, được quản lý chặt chẽ với liều 5 giọt ngậm dưới lưỡi mỗi 12 giờ trong khoảng thời gian 3/12 / 2007 đến 2/2/2010. 

Mẫu được nhóm lại theo vị trí địa lý, tiền sử gia đình ung thư, giai đoạn phát triển của khối U, được điều trị và xem xét sự hiện diện của khối U mới. Khi kết thúc giai đoạn nghiên cứu (2 năm) ở bệnh nhân Ung thư phổi, tuyến tiền liệt, ruột kết, ung thư vú và tử cung là cho tác dụng hiệu quả nhất.Tương tự, đã chứng minh được thuốc Vidatox đáp ứng tốt với 96% bệnh nhân, kéo dài thời gian sống hơn 12 tháng không phụ thuộc vào vị trí và giai đoạn của bệnh, đặc biệt là ở những bệnh nhân mà không có phương pháp điều trị có sẵn trong thuốc thông thường.

[​IMG]

Kết quả lâm sàng cho thấy rằng 90% bệnh nhân dùng Vidatox với liều nhất định đã cải thiện các triệu chứng lâm sàng trên cơ sở tham khảo ý kiến, và 62% trong số họ đau đầu phát triển thành một thể nhẹ mà không yêu cầu điều trị hỗ trợ, trong khi 27% cho biết hết đau rõ rệt. Một khía cạnh thứ hai ảnh hưởng to lớn của Vidatox đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đặc biệt là trên 62% bệnh nhân mà đang có sự hiện diện của cơn đau dữ dội cùng với nhu cầu tiếp tục dùng thuốc giảm đau (cấp 2), sau khi điều trị đã cho kết quả tốt với tình trạng đau ít hoặc vừa phải mà không cần tới sự hỗ trợ của thuốc giảm đau.

Một số loại ung thư Vidatox plus cho kết quả tốt nhất:
- Ung thư tuyến tiền liệt ở tất cả mọi giai đoạn
- Ung thư đạ dày và ung thư phổi
- Ung thư não Ung thư gan
- Ung thư vú(…)

Đây là sản phẩm có tiềm năng, không độc, sử dụng qua đường uống. Việc sử dụng thuốc không loại trừ hay hạn chế bất cứ phương pháp điều trị ung thư truyền thống nào, việc sử dụng đồng thời có thể có tác dụng hiệp đồng trong điều trị ung thư. Việc sử dụng thuốc vidatox trong điều trị cho bệnh nhân ung thư tại các cơ quan khác nhau trong cơ thể và các giai đoạn khác nhau cho thấy: Đã cải thiện chất lượng cuộc sống Cải thiện các triệu chứng Giảm đau Kéo dài thời gian sống. Những lợi ích này được ghi nhận ở khoảng 85% trường hợp, kết quả này tất nhiên phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của bệnh nhân khi bắt đầu điều trị.

Với những tính năng và tác dụng vượt trội, VIDATOX Plus ngay sau khi ra mắt đã được phân phối chính thức tới 51 quốc gia và nhận được sự đánh giá rất cao của bệnh nhân cũng như giới y học trên thế giới.

HIỆN NAY TRÊN THỊ TRƯỜNG CÓ RẤT NHIỀU ĐƠN VỊ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM VIDATOX KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC VÀ CHẤT LƯỢNG
HÃY MUA VIDATOX CHÍNH HÃNG CỦA HT PHARMA
" ĐỪNG ĐỂ TIỀN MẤT TẬT MANG"

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI & XUẤT NHẬP KHẨU HƯNG THẮNG 
ĐẠI DIỆN THƯƠNG MẠI CỦA LABIOFAM TẠI VIỆT NAM


Phía Bắc Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà 52 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Phía Nam Địa chỉ: Lầu 3, tòa nhà Jabes I, 244 Cống Quỳnh, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Tp Hồ Chí 


Mr Đức: 0974.561.852 - Mr.Thuyên: 0934.653.464

Khuyến mại 3


Khuyến mại 2

Test

Chương trình khuyến mại


An toàn lao động góp phần tạo nên sức mạnh doanh nghiệp

Những năm gần đây, việc hiện đại hóa, chuyên môn hóa trong sản xuất đã giúp doanh nghiệp gia tăng đáng kể công suất và hiệu quả kinh doanh. Do đó, ngân sách đầu tư cải tiến năng lực sản xuất luôn được các doanh nghiệp chú trọng. Tuy nhiên, ít ai biết rằng khi tăng cao năng suất sản xuất nhưng nếu không đồng thời xây dựng và trang bị an toàn lao động cho lực lượng sản xuất thì tỷ lệ tai nạn lao động sẽ tăng cao, kế hoạch sản xuất và hiệu quả đầu tư bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo đó, để tăng năng suất lao động và phát triển bền vững, mỗi doanh nghiệp đều cố gắng cam kết đảm bảo an toàn cho công nhân. Đối với công nhân, cùng với việc nâng cao tay nghề và sự chuyên nghiệp, ý thức về quyền được đảm bảo an toàn lao động cũng ngày càng thể hiện rõ.



 An toàn lao động An toàn lao động khi làm việc trên cao (Ảnh minh họa) Xu hướng xây dựng văn hóa An toàn lao động trong doanh nghiệp Theo xu hướng hội nhập quốc tế, hiện nay một doanh nghiệp được xem là có ưu thế cạnh tranh và nhiều cơ hội tiềm năng tăng trưởng khi bên cạnh những máy móc, thiết bị hiện tại, doanh nghiệp đó còn có môi trường đảm bảo an toàn lao động và luôn đặt yếu tố an toàn của lực lượng sản xuất lên trước

. Kinh nghiệm từ những nước phát triển cho thấy xây dựng văn hóa an toàn lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty Bao bì APP ở quận 12-TP.HCM cho biết tai nạn lao động ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người lao động và hoạt động của doanh nghiệp. Vì thế nên tại APP, ngoài chuyên viên kỹ thuật an toàn lao động, đích thân giám đốc công ty giám sát trực tiếp công tác bảo hộ lao động. Công ty ông Thành cũng đưa công tác an toàn lao động vào nội dung quan trọng nhất trong nội quy lao động. Tại những công ty quy mô lớn như nhà máy cán thép T.N, mấy năm gần đâyđã có Hội đồng Bảo hộ lao động gồm 11 người và mạng lưới an toàn viên với 27 người ở 27 tổ sản xuất. Hàng ngày, trước khi lên ca, người lao động phải ký cam kết mang đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động theo quy định. Anh Phạm Văn An, Giám đốc sản xuất của một công ty cơ khí ở khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương) cho biết: “Hằng năm, cứ mỗi lần nghỉ Tết xong, chúng tôi lại đau đầu trước việc phải tuyển công nhân mới thay cho số người không quay lại nhà máy! Sức mạnh “truyền miệng” trong giới công nhân rất lớn, chỉ cần năm ba người “rỉ tai” nhau rằng có chỗ làm tốt hơn đang tuyển là chúng tôi mất đi vài chục công nhân. Bây giờ doanh nghiệp cũng phải cạnh tranh với nhau trong việc thu hút lao động có tay nghề cao. Ngoài vấn đề lương, thưởng, người công nhân cũng rất quan tâm đến các giá trị khác như sự chuyên nghiệp, mức độ trang bị an toàn lao động thông qua quần áo, giày bảo hộ có thương hiệu…”. Theo anh An, với đặc thù môi trường làm việc nhiều máy móc,một trong những giải pháp giữ chân công nhân của công ty anh là cam kết trang bị an toàn lao động thật đầy đủ, vì chỉ một tai nạn cũng sẽ khiến cả tập thể công nhân mất tinh thần, năng suất lao động giảm chưa kể một số sẽ bỏ sang doanh nghiệp khác. An toàn lao động làm nên thương hiệu cho doanh nghiệp Anh Đặng Minh Quân, nhân sự ở một công ty cơ điện lạnh tại Quận 9 chia sẻ rằngtâm lý người công nhân là thích được gia đình và những người xung quanh biết mình đang làm việc ở một môi trường chuyên nghiệp, hiện đại. Thế nên việc đảm bảo an toàn lao động cũng là cách mà công ty anh xây dựng lòng tự hào về nghề nghiệp cho công nhân, qua đó góp phần xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp. Điều này đặc biệt thể hiện qua trang phục và giày bảo hộ. Vì thế anh Minh Quân đã đề nghị ban giám đốc đầu tư trang bị quần áo công nhân chất lượng cao, giày bảo hộ của DH-group, một thương hiệu uy tín trên thị trường. Tuy chi phí cho đợt trang bị này cao hơn những năm vừa rồi nhưng bù lại, lượng công nhân tự ý nghỉ việc giảm bớt và nhất là an toàn lao động được đảm bảo hơn trước. Nhiều công nhân tay nghề cao cũng đến xin việc với lý do là muốn được gia nhập vào đội ngũ làm việc chuyên nghiệp và hiện đại của nhà máy. Gần đây, để đảm bảo an toàn lao động và thực hiện cam kết quan tâm đến sức khỏe người công nhân, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào trang phục bảo hộ chất lượng cao, đặc biệt là giày, vật dụng có tác dụng bảo vệ nhiều nhất cho người công nhân. Thương hiệu giày công nhân được lựa chọn nhiều nhất hiện nay có thể kể đến giày bảo hộ DH-group. DH-group chuyên sản xuất, cung ứng các loại giày công nhân, giày công trường với chất liệu 100% da thật (bò/trâu) dày từ 1,6mm trở lên, đảm bảo độ bền vượt trội; chất liệu đế là cao su chống dầu có tính ma sát bám dính tốt, chống trơn trợt và đặc biệt chịu nhiệt tốt. Mũi giày và miếng lót đế giày được làm bằng kim loại, giúp hạn chế vật nặng va chạm và giảm rủi ro trước các vật nhọn như đinh hay kim loại khác.

Quyết định Chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động

Ngày 18 tháng 10 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động đến năm 2010


1. Mục tiêu tổng quát

Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ người lao động; nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng và hạnh phúc cho người lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

2. Mục tiêu cụ thể đến 2010

- Giảm số vụ TNLĐ nghiêm trọng chết người; Trung bình hàng năm giảm 5%

- Giải pháp thực hiện chương trình

- Trách nhiệm của các cơ quan thực hiện chương trình

tần suất TNLĐ trong các ngành, lĩnh vực có nguy cơ cao về TNLĐ (khai khoáng, xây dựng, sử dụng điện);

- Hàng năm, giảm 10% số NLĐ mắc mới BNN; đảm bảo trên 80% NLĐ làm việc tại các cơ sở có nguy cơ bị các BNN được khám phát hiện BNN;

- 100% NLĐ đã xác nhận bị TNLĐ và BNN được điều trị, chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng;

- Trên 80% NLĐ làm các nghề, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ và các cán bộ ATVSLĐ được huấn luyện về ATVSLĐ;

- Đảm bảo 100% số vụ TNLĐ chết người và TNLĐ nặng được điều tra, xử lý.

3. Giải pháp và chương trình thực hiện

3.1 Giải pháp về chính sách và cơ chế

a. Về chính sách:

- Tiếp tục thực hiện, thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về BHLĐ; sửa đổi, bổ sung nội dung ATVSLĐ trong Bộ Luật lao động; xây dựng Luật ATVSLĐ; xây dựng Quỹ Bồi thường TNLĐ, BNN;

- Xây dựng chính sách khuyến khích người sử dụng lao động cải thiện điều kiện lao động;

- Nghiên cứu hoàn thiện chính sách khen thưởng, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về ATVSLĐ;

- Nghiên cứu xây dựng chính sách và cơ chế khuyến khích phát triển các dịch vụ tư vấn, kiểm định, đào tạo, huấn luyện về ATVSLĐ.

b. Về cơ chế:

- Cơ chế phân bổ nguồn vốn: Kinh phí được phân bổ hàng năm theo từng Dự án cho các Bộ, Ngành chủ trì Dự án và sử dụng theo qui định của Nhà nước.

- Cơ chế phối hợp: Tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức đoàn thể vào mọi hoạt động của Chương trình, từ việc lập kế hoạch triển khai, quản lý nguồn lực, giám sát và đánh giá kết quả đến việc thụ hưởng thành quả từ các Dự án của Chương trình.

- Cơ chế lồng ghép: Nội dung các Dự án được triển khai lồng ghép với các hoạt động khác có liên quan.

- Cơ chế giám sát và đánh giá:

+ Phát huy đồng bộ các hệ thống giám sát đánh giá: Tự giám sát, đánh giá của các Bộ, Ngành chủ trì Dự án; giám sát, đánh giá của các cơ quan nhà nước theo chủ đề (không theo Dự án) hoặc tổng thể Chưong trình; Giám sát, đánh giá mang tính độc lập đánh giá của các tổ chức tư vấn, khoa học; Giám sát, đánh giá quá trình từ các tổ chức đại diện NSDLĐ, NLĐ.

+ Việc giám sát, đánh giá đầu vào và tác động thông qua đánh giá thực hiện các hoạt động Dự án và các chỉ tiêu.

- Cơ chế đặt hàng, đấu thầu: Được áp dụng đối với tất cả các Dự án để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch (như việc cung cấp các trang, thiết bị làm việc của cán bộ ATVSLĐ, việc đầu tư nâng cấp các cơ sở phục hồi chức năng lao động, khám phát hiện BNN...)

3.2 Quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện

a. Quản lý - điều hành:

- Thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình giúp Thủ tướng Chính phủ điều hành, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương điều phối các hoạt động của Chương trình.

- Thành phần Ban Chỉ đạo gồm:

+ Trưởng ban: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

+ Các Phó Trưởng ban: Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Phó Trưởng ban thường trực; Đại diện lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Y tế làm Phó Trưởng ban;

+ Các Uỷ viên: Đại diện lãnh đạo các cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Quốc phòng; Công an; Khoa học-Công nghệ; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công nghiệp; Giáo dục và Đào tạo; Xây dựng; Văn hoá - Thông tin.

Mời đại diện lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tham gia Ban chỉ đạo.

- Trưởng ban Chỉ đạo chương trình quyết định thành lập Ban quản lý giúp việc cho Ban Chỉ đạo chương trình.

b. Lập kế hoạch thực hiện Chương trình

- Các hoạt động về BHLĐ phải xây dựng trong kế hoạch hàng năm của các Bộ, Ngành, địa phương và doanh nghiệp.

- Xây dựng kế hoạch BHLĐ phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Bộ, Ngành, địa phương.

- Định kỳ 6 tháng, hàng năm, phải thực hiện sơ kết, tổng kết và thông báo công khai kết quả thực hiện Chương trình trên các phương tiên thông tin đại chúng.

c. Các Bộ, Ngành có liên quan xây dựng kế hoạch triển khai, hướng dẫn các địa phương thực hiện các hoạt động BHLĐ đã được phân công theo chức năng, nhiệm vụ.

3. Thời gian và phạm vi thực hiện chương trình

- Thời gian thực hiện trong 5 năm, từ năm 2006- 2010

4. Trách nhiệm của các cơ quan thực hiện

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, Ngành liên quan tổ chức triển khai Chương trình; xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hàng năm; điều phối các hoạt động của Chương trình; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và định kỳ hàng năm tổng hợp tình hình và báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện Chương trình; xây dựng Quỹ bồi thường tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ; tổ chức thực hiện dự án Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hộ lao ôđngj và dự án Tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, phát huy vai trò của quần chúng tham gia công tác bảo hộ lao động.

- Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính cân đối và bố trí kế hoạch kinh phí hàng năm để thực hiện Chương trình trên cơ sở thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo qui định hiện hành; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn các địa phương lồng ghép các chương trình khác liên quan với Chương trình Quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động trên cùng một địa bàn từ khâu lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện.

- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch - Đầu tư bố trí ngân sách của các Bộ, Ngành, địa phương để triển khai thực hiện Chương trình theo qui định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn đối với việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; chủ trì hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với các Dự án của Chương trình; Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng văn bản hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình.

- Bộ Y tế chủ trì và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , các Bộ, Ngành liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện dự án Tăng cường phòng, chống bệnh nghề nghiệp.

- Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện dự án Cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp, tập trung giảm thiểu tai nạn lao động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, sử dụng điện, xây dựng.

- Bộ Khoa học - Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , các Bộ, Ngành liên quan triển khai xây dựng, ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn lao động; vệ sinh lao động; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chất lượng, quy cách các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động; triển khai các đề tài khoa học liên quan đến AN TOÀN - Vệ SINH LAO ĐộNG.

- Bộ Nông nghiệp -Phát triển nông thôn chủ trì và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội nông dân Việt Nam và các Bộ, Ngành liên quan tổ chức thực hiện Dự án tăng cường công tác phòng ngừa TAI NạN LAO ĐộNG và BệNH NGHề NGHIệP trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn.

- Bộ Giáo dục - Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt giáo dục về AN TOÀN - Vệ SINH LAO ĐộNG, môi trường cho học sinh, sinh viên.

- Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , các Bộ, Ngành có liên quan tổ chức triển khai hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác BảO Hộ LAO ĐộNG, an toàn lao động, vệ sinh lao động.

- Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan triển khai các hoạt động cải thiện điều kiện lao động, giảm thiểu nhiễm độc TNT trong lĩnh vực cất giữ, bảo quản, sửa chữa, xử lý trang bị kỹ thuật phục vụ mục đích an ninh quốc phòng.

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham gia các hoạt động của Chương trình.

- Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, Ngành liên quan tổ chức triển khai nghiên cứu khoa học, nâng cao hiệu quả phong trào quần chúng hoạt động về BảO Hộ LAO ĐộNG, AN TOÀN - Vệ SINH LAO ĐộNG trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ; thực hiện dự án Nâng cao năn glực nghien cứu ứng dụng khoa học công nghệ an toàn - vệ sinh lao động.

- Đề nghị Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội , Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan thực hiện dự án Nâng cao chất lượng công tác BảO Hộ LAO ĐộNG, cải thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Các Bộ, Ngành khác và các địa phương chủ động phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan tham gia vào các hoạt động của Chương trình.

- Phạm vi thực hiện trên toàn quốc.

Những vấn đề chung về bảo hộ lao động


Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi người lao động. Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động. Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động. Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động. Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ xã hội loài người".
I- Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động    

1- Khái niệm    
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi người lao động. Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động. Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động. Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động. Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ xã hội loài người".
Trong quá trình lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, con người luôn phải tiếp xúc với máy móc, trang thiết bị, công cụ và môi trường... Đây là một quá trình hoạt động phong phú, đa dạng và rất phức tạp, vì vậy luôn phát sinh những mối nguy hiểm và rủi ro... làm cho người lao động có thể bị tai nạn hoặc mắc bệnh nghề nghiệp, vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế được tai nạn lao động đến mức thấp nhất. Một trong những biện pháp tích cực nhất đó là giáo dục ý thức bảo hộ lao động cho mọi người và làm cho mọi người hiểu được mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động.    

2- Mục đích của công tác Bảo hộ lao động.   
Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại. Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn, chúng có thể tác động vào con người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mất khả năng lao động hoặc gây tử vong. Cho nên việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động.    
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình lao động, nhằm mục đích:
- Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động.    
- Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên.
- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động.

3- Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
    
a- Ý nghĩa chính trị    

Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động khỏe mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn luôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn được bảo vệ và phát triển. Công tác bảo hộ lao động làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính mạng và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng.
Ngược lại, nếu công tác bảo hộ lao động không tốt, điều kiện lao động không được cải thiện, để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút.    

b- Ý nghĩa xã hội    

Bảo hộ lao động là chăm lo đời sống, hạnh phúc của người lao động. Bảo hộ lao động là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động. Các thành viên trong mỗi gia đình ai cũng mong muốn khỏe mạnh, trình độ văn hóa, nghề nghiệp được nâng cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh và phát triển.    
Bảo hộ lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động khỏe mạnh, làm việc có hiệu quả và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ xã hội, tự nhiên và khoa học kỹ thuật.    

Khi tai nạn lao động không xảy ra thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội.    

c- Ý nghĩa kinh tế    

Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Trong lao động sản xuất nếu người lao động được bảo vệ tốt, điều kiện lao động thoải mái, thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất, phấn đấu để có ngày công, giờ công cao, phấn đấu tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất. Do vậy phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tập thể lao động.
Chi phí bồi thường tai nạn là rất lớn đồng thời kéo theo chi phí lớn cho sửa chữa máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu...    

Tóm lại an toàn là để sản xuất, an toàn là hạnh phúc của người lao động, là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

4- Tính chất công tác bảo hộ lao động
    
Bảo hộ lao động có 3 tính chất:    

a- Tính pháp luật

Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn của nhà nước về bảo hộ lao động đã ban hành đều mang tính pháp luật. Pháp luật về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tổ chức nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có tránh nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện.

b- Tính khoa học - kỹ thuật    

Mọi hoạt động trong công tác bảo hộ lao động từ điều tra, khảo sát điều kiện lao động, phân tích đánh giá các nguy hiểm, độc hại và ảnh hưởng của chúng đến an toàn vệ sinh lao động cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải pháp phòng ngừa, xử lý khắc phục đều phải vận dụng các kiến thức lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành.
Ví dụ: Muốn chống tiếng ồn phải có kiến thức về âm học, muốn cải thiện điều kiện lao động, nặng nhọc và vệ sinh trong một số ngành nghề phải hiểu và giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp liên quan đến kiến thức khoa học nhiều lĩnh vực như thông gió, chiếu sáng, cơ khí hóa, tâm sinh lý học lao động... đồng thời với
nền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người lao động phải có kiến thức chuyên môn kỹ thuật để sản xuất, muốn sản xuất có hiệu quả và bảo vệ được tính mạng, sức khỏe, an toàn cho bản thân, thì phải hiểu biết kỹ về công tác bảo hộ lao động. Như vậy công tác bảo hộ lao động phải đi trước một bước.

c- Tính quần chúng    

Tính quần chúng thể hiện trên hai mặt:    
Một là, bảo hộ lao động liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất, họ là người vận hành, sử dụng các dụng cụ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu nên có thể phát hiện được những thiếu sót trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp ngăn ngừa, đóng góp xây dựng hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn vệ sinh lao động.    

Hai là, dù cho các chế độ chính sách, tiêu chuẩn quy phạm về bảo hộ lao động có đầy đủ đến đâu, nhưng mọi người (từ lãnh đạo, quản lý, người sử dụng lao động đến người lao động) chưa thấy rõ lợi ích thiết thực, chưa tự giác chấp hành thì công tác bảo hộ lao động cũng không thể đạt được kết quả mong muốn.

II- Nội dung bảo hộ lao động    
Công tác bảo hộ lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau:    
Kỹ thuật an toàn;    
Vệ sinh an toàn;    
Các chính sách, chế độ bảo hộ lao động.

1- Kỹ thuật an toàn    
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động. Để đạt được mục đích phòng ngừa tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động, trong quá trình hoạt động sản xuất phải thực hiện đồng bộ các biện pháp về tổ chức, kỹ thuật, sử dụng các thiết bị an toàn và các thao tác làm việc an toàn thích ứng.    
Tất cả các biện pháp đó được quy định cụ thể trong các quy phạm, tiêu chuẩn, các văn bản khác về lĩnh vực an toàn.    
Nội dung kỹ thuật an toàn chủ yếu gồm những vấn đề sau:    
Xác định vùng nguy hiểm;    
Xác định các biện pháp về quản lý, tổ chức và thao tác làm việc đảm bảo an toàn;
Sử dụng các thiết bị an toàn thích ứng: Thiết bị che chắn, thiết bị phòng ngừa, thiết bị bảo hiểm, tín hiệu, báo hiệu, trang bị bảo hộ cá nhân.    

2- Vệ sinh lao động    
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động. Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại, trước hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại đối với cơ thể con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu tố trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinh lao động.    
Nội dung của vệ sinh lao động bao gồm:    
- Xác định khoảng cách về vệ sinh    
- Xác định các yếu tố có hại cho sức khỏe    
• Giáo dục ý thức và kiến thức vệ sinh lao động, theo dõi quản lý sức khỏe.
- Biện pháp vệ sinh học, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường.
- Các biện pháp kỹ thuật vệ sinh: Kỹ thuật thông gió, thoát nhiệt, kỹ thuật chống bụi, chống ồn, chống rung động, kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật chống bức xạ, phóng xạ, điện từ trường...    

Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên theo dõi sự phát sinh các yếu tố có hại, thực hiện các biện pháp bổ sung làm giảm các yếu tố có hại, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
    
3- Chính sách, chế độ bảo hộ lao động    

Các chính sách, chế độ bảo hộ lao động chủ yếu bao gồm: Các biện pháp kinh tế xã hội, tổ chức quản lý và cơ chế quản lý công tác bảo hộ lao động. Các chính sách, chế độ bảo hộ lao động nhằm bảo đảm thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật an toàn, biện pháp về vệ sinh lao động như chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý, của tổ chức bộ máy làm công tác bảo hộ lao động, các chế độ về tuyên truyền huấn luyện, chế độ thanh tra, kiểm tra, chế độ về khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo về tai nạn lao đông...    

Những nội dung của công tác bảo hộ lao động nêu trên là rất lớn, bao gồm nhiều công việc thuộc nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, hiểu được nội dung của công tác bảo hộ lao động sẽ giúp cho người quản lý đề cao trách nhiệm và có biện pháp tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động đạt kết quả tốt nhất.

III- Hệ thống pháp luật và các quy định về bảo hộ lao động    

Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, công tác xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật về bảo hộ lao động nói riêng đã được các cấp các ngành hết sức quan tâm. Vì vậy đến nay Nhà nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động tương đối đầy đủ.
Hệ thống luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động và liên quan đến bảo hộ lao động bao gồm:
    
1- Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số: 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10)
    
- Điều 56 của hiến pháp quy định:    

Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.
Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

- Các điều 39, 61, 63 quy định các nội dung khác về bảo hộ lao động.

2- Bộ Luật lao động và các luật khác, pháp lệnh có liên quan đến an toàn - vệ sinh lao động    

Bộ Luật lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất.    

Vì vậy, Bộ luật lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật quốc gia.    

Trong bộ Luật lao động những chương liên quan đến an toàn vệ sinh lao động:
- Chương VII : Quy định thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi.
- Chương IX : Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
- Chương X : Những quy định riêng đối với lao động nữ.
-  Chương XI : Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số lao động khác.    
- Chương XII : Những quy định về bảo hiểm xã hội.    
- Chương XVI : Những quy định về thanh tra Nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động.    

3- Một số luật, có liên quan đến an toàn vệ sinh lao động    

a- Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, ban hành năm 1989
    
- Quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải chăm lo, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người lao động.    
- Phải tạo điều kiện cho người lao động được điều dưỡng, nghỉ ngơi, phục hồi chức năng lao động.    
- Phải thực hiện đúng các tiêu chuẩn vệ sinh lao động, phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động    
- Nghiêm cấm việc làm ô nhiễm các nguồn nước sinh hoạt, tránh làm ô nhiễm đất, nước và không khí...    

b- Luật bảo vệ môi trường, ban hành năm 2005
    
- Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường.    
- Luật này áp dụng đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trường hợp trong điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.    

c- Luật công đoàn ban hành năm 1990    

Trong luật công đoàn quy định trách nhiệm và quyền hạn của công đoàn trong công tác bảo hộ lao động, từ việc phối hợp nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động đến trách nhiệm tuyên truyền giáo dục công tác bảo hộ lao động cho người lao động, kiểm tra việc chấp hành luật pháp bảo hộ lao động, tham gia điều tra tai nạn lao động...
    
4- Hệ thống các văn bản quy định của chính phủ, của các bộ ngành chức năng và hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, hệ thống các quy định an toàn lao động theo nghề và công tác

Cùng với các nghị định của Chính phủ, các thông tư, quyết định của các bộ, ngành chức năng, hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh
lao động, các quy trình về an toàn bao gồm: Tiêu chuẩn, quy phạm cấp Nhà nước, Tiêu chuẩn, quy phạm cấp ngành; Nội quy, quy định của đơn vị sản xuất ban hành nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động.
    
IV- Nội dung kế hoạch bảo hộ lao động
    
1- Ý nghĩa của kế hoạch bảo hộ lao động
    
Công tác bảo hộ lao động là công tác nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc những tác động xấu đến sức khỏe người lao động. Do đó kế hoạch bảo hộ lao động là một văn bản pháp lý của doanh nghiệp nêu lên những nội dung, những công việc doanh nghiệp phải làm nhằm đạt các mục tiêu trên. Mặt khác, đây cũng là nghĩa vụ đầu tiên trong các nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Nghị định số: 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ quy định "Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động"

Kế hoạch bảo hộ lao động là một yếu tố rất quan trọng bảo đảm cho công tác bảo hộ lao động của doanh nghiệp được thực hiện tốt.    

2- Nội dung của kế hoạch bảo hộ lao động    
Kế hoạch bảo hộ lao động gồm 5 nội dung cơ bản sau:
- Các biện pháp về kỹ thuật an toàn và phòng chống cháy nổ.
- Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm việc.
- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động.
- Chăm sóc sức khỏe người lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp.
- Tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện về bảo hộ lao động.

3- Yêu cầu của kế hoạch bảo hộ lao động    
- Kế hoạch bảo hộ lao động phải đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Kế hoạch bảo hộ lao động phải bao gồm đủ 5 nội dung trên với những biện pháp cụ thể kèm theo kinh phí, vật tư, ngày công, thời gian bắt đầu, thời gian hoàn thành, trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện.

4- Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động

a- Cơ sở lập
    
- Nhiệm vụ, phương pháp kế hoạch sản xuất kinh doanh, tình hình lao động của năm kế hoạch.
    
- Kế hoạch bảo hộ lao động và những thiếu sót tồn tại của năm trước

- Các kiến nghị của người lao động, ý kiến của tổ chức công đoàn, kiến nghị của thanh tra, kiểm tra.    

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kinh phí trong kế hoạch bảo hộ lao động được hạch toán vào giá thành sản phẩm, phí lưu thông của doanh nghiệp.

b- Tổ chức thực hiện
    
- Sau khi kế hoạch bảo hộ lao động được phê duyệt thì bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện.    

- Bộ phận bảo hộ lao động hoặc cán bộ lao động cùng với bộ phận kế hoạch đôn đốc kiểm tra việc thực hiện và thường xuyên báo cáo với người sử dụng lao động.

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm định kỳ kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động và thông báo kết quả thực hiện cho người lao động trong đơn vị biết.
    
IV- Công tác thanh tra, kiểm tra bảo hộ lao động
    
Công tác thanh tra, kiểm tra về bảo hộ lao động ở nước ta được thực hiện dưới các hình thức: Thanh tra Nhà nước, kiểm tra của cấp trên với cấp dưới; tự kiểm tra của cơ sở và việc kiểm tra, giám sát của tổ chức Công đoàn các cấp.
1- Hệ thống thanh tra Nhà nước về bảo hộ lao động ở nước ta hiện nay gồm: Thanh tra về An toàn lao động đặt trong Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Thanh tra về vệ sinh lao động đặt trong Bộ Y tế. Các hệ thống này có nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động của tất cả các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động. Thanh tra viên có quyền xử lý tại chỗ các vi phạm, có quyền đình chỉ hoạt động sản xuất ở những nơi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động hoặc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.    

2- Các cấp ở địa phương hoặc ngành trong phạm vi quản lý của mình cần tiến hành các đợt kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về bảo hộ lao động đối với cơ sở.

3- Các cơ sở phải định kỳ tiến hành tự kiểm tra về bảo hộ lao động để đánh giá tình hình, phát hiện những sai sót, tồn tại và đề ra các biện pháp khắc phục để cho công tác bảo hộ lao động được thực hiện tốt theo quy định của luật Công đoàn và pháp lệnh bảo hộ lao động, tổ chức Công đoàn các cấp có quyền tiến hành kiểm tra giám sát các ngành, các cấp tương ứng, người sử dụng lao động, người lao động trong việc chấp hành pháp luật bảo hộ lao động. Đồng thời Công đoàn cấp trên tiến hành việc kiểm tra cấp dưới trong hoạt động bảo hộ lao động.

4- Ngoài các hình thức thanh tra, kiểm tra nêu trên, Liên bộ và Tổng Liên đoàn lao động cũng như các sở và Liên đoàn Lao động địa phương hoặc các cấp dưới còn tiến hành các đợt kiểm tra liên tịch đối với các ngành, địa phương, cơ sở trong việc thi hành pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động.

VI- Khai báo, điều tra tai nạn lao động    

Công tác khai báo, điều tra tai nạn lao động là hết sức quan trọng, bởi vì nó nhằm mục đích phân tích, xác định được các nguyên nhân tai nạn lao động trên cơ sở đó để ra các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các trường hợp tai nạn tương tự tái diễn, đồng thời để phân rõ trách nhiệm đối với những người liên quan đến tai nạn. Tất cả các trường hợp tai nạn xảy ra đối với người lao động (Không phân biệt trong biên chế hay hợp đồng tạm tuyển, hợp đồng dài hạn hay ngắn hạn) trong giờ làm việc ở công trường hay khi đi công tác đều phải khai báo và điều tra theo Quyết định số: 45/KB-QĐ ngày 20/3/1992 của Liên bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, y tế và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.    

Muốn cho công tác điều tra đạt kết quả tốt, khi tiến hành phải luôn nắm vững các yêu cầu sau:
    
1- Khẩn trương, kịp thời: Tiến hành điều tra ngay sau tai nạn xảy ra, lúc hiện trường nơi xảy ra còn được giữ nguyên vẹn, việc khai thác thông tin các nhân chứng cũng kịp thời.    
2- Bảo đảm tính khách quan: Phải tôn trọng trong sự thật, không bao che, không định kiến, không suy diễn chủ quan thiếu căn cứ.
    
3- Cụ thể và chính xác: Phải xem xét một cách toàn diện, kỹ lưỡng từng chi tiết, tránh tình trạng qua loa, đại khái.    

Trong điều tra tai nạn lao động phải thực hiện tốt các yêu cầu trên mới đưa ra được những kết luận đúng đắn về nguyên nhân và trách nhiệm của những người liên quan đến vụ tai nạn.